RU-TƠ GẶP BÔ-Ô (Ru-tơ 3:1-18) – Ms Võ Đức Hoà

RU-TƠ GẶP BÔ-Ô (Ru-tơ 3:1-18) – Ms Võ Đức Hoà

Chủ-đề: RU-TƠ GẶP BÔ-Ô

Kinh thánh: Rutơ 3:1-18

 

Câu gốc: Rutơ 3:11Vậy bây giờ, hỡi con gái ta, chớ sợ chi: ta sẽ làm cho nàng mọi điều nàng sẽ nói; vì cả dân sự trong thành ta đều biết rằng nàng là một người đàn bà hiền đức.

I –  Lý Do Ru-Tơ Gặp Bô-Ô: Ru-tơ 3:1-5.

Đoạn 3 bắt đầu với bà Na-ô-mi chủ động sắp xếp mọi việc cho Ru-tơ.

Na-ô-mi sắp xếp để Ru-tơ gặp Bô-ô, Na-ô-mi nêu ra lý do: mẹ phải lo cho con một chỗ an thân.

Theo nguyên ngữ thì chốn an thân hàm ý chỉ một ngôi nhà, một chỗ nghỉ ngơi an toàn, thường dùng chỉ về một cuộc hôn nhân. Đối với quan niệm phong tục của người Y-sơ-ra-ên thời đó, một phụ nữ cần có chồng làm nơi che chở. Giống như người Việt Nam, trong các SÍNH LỄ cưới vợ, chàng rể thường phải có một cây dù tặng cô dâu, chỉ dấu là cô dâu có chỗ che chở.

Trong văn hóa Việt Nam, những bậc cha mẹ thường quan tâm lo cho con cái có gia đình, nhất là con gái, khi nào con gái có gia đình thì cha mẹ mới thấy là tròn trách nhiệm. Lòng yêu thương của bà Na-ô-mi đối với Ru-tơ được thể hiện qua việc làm tìm một chỗ an thân, tức là tìm chỗ gả nàng dâu Ru-tơ một nơi nào khiến bà an tâm.

Phong tục dựng vợ gả chồng cho con dâu của Na-ô-mi cũng giống với người Việt Nam, khi người chồng qua đời, thì chính mẹ chồng là người có thẩm quyền đứng ra gả con dâu, không phải là mẹ ruột.

Ý tưởng nầy cho chúng ta một bài học thuộc linh quý báu như Phao-lô nói trong thư I Cô-rinh-tô 4:15, “Bởi chưng, dẫu anh em có một vạn thầy giáo trong Đấng Christ, nhưng chẳng có nhiều cha…”. Nàng Ru-tơ sống trên đất mà Đức Chúa Trời hứa với dân Chúa, có bà con và người đồng hương che chở giúp đỡ, có một bà mẹ chồng yêu thương, nhưng tất cả không phải là chỗ an thân chính thức mà Ru-tơ cần có. Ru-tơ cần có một người chồng đúng nghĩa. Điều Ru-tơ cần không phải là một sự giúp đỡ, không phải cần một người bà con, nhưng Ru-tơ cần là cần một Người Bà Con – Cứu Chuộc. Cho nên bà Na-ô-mi như một người truyền đạo Tin Lành hoặc một người tin Chúa Jêsus hướng dẫn người chưa tin Chúa đến với một Cứu Chúa và Chúa của họ, không phải hướng dẫn người nghe đến với một thần tài để khi người tin Chúa cần tiền thì tìm đến Chúa; hoặc đến với Chúa như một bác sĩ khi họ bịnh thì tìm Chúa chữa cho; hoặc Chúa như một thầy giáo khi cần đứng lên dạy dỗ kẻ khác,…thậm chí đến với Chúa như một vị thần làm phép lạ lúc nào cũng tuyên bố phép lạ nầy phép lạ khác, trừ ra phép lạ cứu rỗi thì không nói đến.

Tôi không biết những bà mẹ chồng thời đó có giống như bà Na-ô-mi hay không, ngay cả ngày nay cũng phải nói là hiếm gặp.

Chắc chắn Ru-tơ là người Mô-áp không biết gì hoặc không biết nhiều về phong tục của người Y-sơ-ra-ên, nhưng được bà Na-ô-mi dạy từng chi tiết nhỏ nhặt theo luân lý của người Y-sơ-ra-ên:

Từ việc cho biết thói quen của chủ đất như Bô-ô đi sảy lúa nơi sân đạp lúa.

Na-ô-mi hướng dẫn con dâu: Hãy đi tắm rửa, xức dầu, mặc quần áo – theo bản dịch khác thì nói rõ thêm: quần áo đẹp nhất, thay vì mặc bộ đồ của một góa phụ nghèo nàn, Ru-tơ dứt khoát từ bỏ cuộc sống cũ.

Ru-tơ được mẹ chồng dạy xuống sân đạp lúa trước khi Bô-ô ăn xong, không cho Bô-ô biết, dở mền nằm dưới chân Bô-ô.

Và bà Na-ô-mi đoán biết Bô-ô sẽ nói gì với Ru-tơ.

Chúng ta cũng ngạc nhiên khi nghe Ru-tơ thưa với mẹ chồng: Mọi điều mẹ đã nói với con, con sẽ làm (Ru-tơ 3:5). Ru-tơ không thắc mắc sao mẹ chồng không dạy mình thủ tiết thờ chồng, giữ trọn tang chồng ít nhất ba năm. Chắc chắn Ru-tơ tin cậy mẹ chồng và hiểu được ý định tốt mà mẹ chồng, Na-ô-mi hướng dẫn cho nàng tìm đến với Bô-ô với sứ mạng cầu hôn. Và nàng vâng lời.

Nếu gác lại ý nghĩa thuộc linh, chúng ta cũng tìm thấy được một sự dạy dỗ ít khi được các diễn giả đề cập đến: Tình yêu thương giữa mẹ chồng nàng dâu! Ru-tơ đã yêu thương được một người khó thương nhất, đó là mẹ chồng; ngược lại, bà Na-ô-mi đã yêu thương một người khó thương nhất: nàng dâu. Người Việt Nam có thành ngữ ‘mẹ chồng nàng dâu’ để chỉ cảnh cơm không lành canh không ngọt trong gia đình hay trong một tập thể nào. Nhưng ở đây, qua sách Ru-tơ đoạn 1 đến đoạn 3, một hình ảnh hoàn toàn ngược lại. Hiếm hoi hoặc Lời Chúa muốn dạy người tin Chúa Jêsus rằng: Trong Chúa chẳng phải như thế gian, mẹ chồng nàng dâu còn thương nhau được huống gì chúng ta.

II – Diễn Biến Cảnh Ru-Tơ Gặp Bô-Ô:  Ru-tơ 3:6-12.

Câu chuyện tình giữa Ru-tơ với Bô-ô diễn ra nơi sân đạp lúa vào mùa thu hoạch, từ khi gặt lúa đến khi đạp lúa.

Nhân đây chúng ta cũng nên hiểu qua việc thu hoạch lúa của người Y-sơ-ra-ên, có vài nét giống và vài nét khác với người Việt Nam.

Thường việc gặt lúa là công việc của người nam.

Những người Nam đi theo sau con gặt gom cột thành những bó lúa lại.

Người ta dành một khoảng đất trống trong ruộng đường kính độ 10 đến 15 mét, dọn dẹp sạch, lượm đá và nện đất cho cứng. Những bó lúa được tập trung vào sân để những con bò dẫm đạp làm cho hạt lúa tách rời khỏi rơm. Những con bò vừa dẫm đạp các gié lúa có thể ăn những rơm lúa, như luật pháp Môi-se qui định (Phục. 25:4).

Khi các con bò dẫm đạp xong, thì trời đã về chiều, gió thổi mạnh hơn, người ta sẽ bắt đầu giê lúa. Người ta dùng những dụng cụ như bồ cào hất tung rơm lúa lên, gió từ chiều đến tối thường thổi mạnh sẽ thổi những rơm rác bay đi, lúa chắc tốt sẽ còn lại (Thi 1:4). Có khi người giê lúa đứng trên sàn cao để giê lúa.

Làm xong có được những hạt lúa chắc tốt, thì trời đã khuya, tất cả công nhân và gia đình họ sẽ cùng ăn bữa tối với nhau (Khải. 3:20), và ngủ lại chung quanh sân đạp lúa để giữ lúa khỏi bị mất cắp. Thường thì chủ ruộng cũng có mặt suốt ngày nầy ở lại với công nhân, như trường hợp của Bô-ô được nói đến trong sách Ru-tơ đoạn 3.

Qua lời của bà Na-ô-mi dạy Ru-tơ trong Ru-tơ 3:1-4, chứng tỏ bà Na-ô-mi là người biết rõ các sinh hoạt ngày mùa trong dân Y-sơ-ra-ên. Và chúng ta thấy Ru-tơ đã làm đúng theo lời dạy của mẹ chồng Na-ô-mi (Ru-tơ 4:6).

Ru-tơ 4:7, Ru-tơ dở mền nằm dưới chân Bô-ô, có lẽ sau một ngày mệt nhọc nhưng vui vì xong vụ mùa tốt đẹp, Bô-ô với lòng mừng rỡ, đã có một giấc ngủ ngon.

Ru-tơ 4:8, nửa đêm, Bô-ô đã hoảng hốt khi thấy một người nằm dưới chân.

Và Ru-tơ đã thành thật trả lời lý do nàng phải nằm dưới chân Bô-ô, ấy là để mong Bô-ô chuộc sản nghiệp cho bên chồng.

Cảm ơn Chúa, yêu cầu cứu chuộc của Ru-tơ được Bô-ô chấp thuận đúng theo luật pháp qui định. Chúng ta thấy Bô-ô rất quen thuộc với luật pháp của Chúa khi nêu ra một người bà con gần hơn có quyền chuộc sản nghiệp trước nếu họ muốn.

Có một số người thường phàn nàn là dường như Đức Chúa Trời thiên vị trọng nam khinh nữ, vì Kinh thánh ghi lại rất nhiều người nam được Đức Chúa Trời dùng làm công việc Chúa, ít khi thấy người nữ.

Có lẽ người phàn nàn nam nhiều nữ ít được Chúa sử dụng chưa đọc đến câu chuyện trong sách Ru-tơ đoạn 3, và nghe câu nói của Bô-ô nói với Ru-tơ được ghi trong Ru-tơ 3:10-11 và trong Ru-tơ 4:15Nó sẽ an ủi lòng bà, dưỡng già bà; vì ấy là dâu bà vẫn thương bà, đã sanh nó cho bà; nàng quí cho bà hơn bảy con trai.

Nếu tính tỉ lệ một người nữ được Chúa dùng bằng bảy người nam, cả thành đều biết, thì người nữ được Chúa dùng nhiều lắm.

Nếu anh chị em đọc K/T và chú ý, mỗi khi một người nữ xuất hiện là có một biến cố trọng đại xảy ra:

Sáng-thế-ký 2:22 khi Ê-va xuất hiện thì tiếp theo là cuộc chiến với quỉ Sa-tan trong Vườn Ê-đen.

I Sa-mu-ên 1:9-12, suốt 400 năm đen tối đời các Quan xét, một người phụ nữ xuất hiện tên An-ne, đã thay đổi hoàn toàn cảnh tối tăm đó.

Ê-xơ-tê 2:7, để chuẩn bị đối phó họa diệt chủng từ Ha-man, Chúa cho một người phụ nữ xuất hiện là Hoàng hậu Ê-xơ-tê, đã cứu dân tộc Giu-đa của bà khỏi họa diệt chủng.

Suốt 400 yên lặng từ đời Tiên tri Ma-la-chi đến sách Tin Lành Ma-thi-ơ, thế gian chìm trong tuyệt vọng không mong được cứu rỗi, thì một phụ nữ xuất hiện (Ma-thi-ơ. 1:16) tên là Ma-ri bằng lòng để Đấng Cứu Thế mượn thân thể đồng trinh của nàng, để Chúa Jêsus vào đời cứu nhân loại.

Bây giờ, qua sách Ru-tơ với sự bắt đầu đầy đau buồn:

Ru-tơ 1:1, đời quan xét tối tăm, lại thêm một cơn đói kém khiến một gia đình phải bỏ nơi Nhà Bánh, xuống trú nơi một dân tộc bị rủa sả Mô-áp.

Ru-tơ 1:3-5, 19, đen tối hơn nữa với ba nấm mộ và ba người đàn bà góa không chồng, không con, từ ngọt ngào (Na-ô-mi) thành cay đắng (Ma-ra), thì một phụ nữ xuất hiện là nàng Ru-tơ, được khen ngợi: Việc nhân đức con làm lần nầy, lại còn trọng hơn lần trước… cả dân sự trong thành ta đều biết rằng nàng là một người đàn bà hiền đức (Ru-tơ 3:10-11).

Cảm ơn Chúa, qua Kinh thánh rõ ràng Đức Chúa Trời không thiên vị nam nữ, miễn là người đó bằng lòng để Chúa sử dụng, và cá nhân người đó có lòng như Ru-tơ:

Đối với Chúa thì Ru-tơ Đức Chúa Trời của mẹ là Đức Chúa Trời của con.

Đối với con người thì Ru-tơ quyết định: Mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó… Còn Bô-Ô rất thận trọng tìm hiểu về Ru-tơ.  11Bô-ô đáp: Người ta có thuật cho ta nghe mọi điều nàng đã làm cho mẹ chồng nàng, từ khi chồng nàng chết, và cách nào nàng đã lìa cha mẹ, xứ sở sanh của nàng, đặng đi đến một dân tộc mà nàng không biết trước. 12Nguyện Đức Giê-hô-va báo đáp điều nàng đã làm; nàng đã đến núp dưới cánh Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên; cầu xin Ngài thưởng cho nàng cách trọn vẹn.” (Ru-tơ 2:11-12).

Dĩ nhiên Chúa đặt trách nhiệm chính trên người nam, là người được dựng nên trước, nhưng nếu người nam không gánh vác việc Chúa thì Đức Chúa Trời sẽ dùng người nữ để làm hổ thẹn người nam (I Cô-rinh-tô. 1:27-29).

III – Kết Qủa Việc  Ru-Tơ Gặp Bô-Ô: Ru-tơ  3:12-18.

Phân đoạn nầy ghi lại hai kết quả Ru-tơ được hưởng bởi hành động gặp Bô-ô.

Ru-tơ 3:12-13, kết quả thứ nhất mà Ru-tơ nhận được từ Bô-ô là lời hứa quyết chắc sẽ chuộc sản nghiệp cho bên chồng nàng (Ru-tơ 3:13).

Ru-tơ 3:14-15, kết quả thứ hai mà Ru-tơ nhận được từ Bô-ô là sự ban cho vật chất rộng rãi với sáu đấu lúa mạch (khoảng 12 gallons hoặc 36 lít )

Khi Ru-tơ trở về nhà, Ru-tơ đã thuật lại mọi diễn tiến gặp Bô-ô và bằng cớ lời chứng của Ru-tơ với mẹ chồng là món quà sáu đấu lúa mạch. Nhìn thấy sáu đấu lúa mạch, bà Na-ô-mi không còn gì nghi ngờ.

Bằng chứng nầy khiến chúng ta nhớ đến bằng chứng các anh của Giô-sép đưa ra, khi báo tin cho cha mình là Gia-cốp biết Giô-sép vẫn còn sống, nhưng lòng Gia-cốp vẫn khó tin lời họ nói. Nhưng khi nhìn thấy những lễ vật mà Giô-sép gởi về, thì Gia-cốp vừa thấy các xe cộ của Giô-sép sai đem về đặng rước mình, thì tâm thần người tỉnh lại (Sáng. 45:25-28).

Điều rất quan trọng cho dù mới được nghe lời hứa của Bô-ô, hứa chuộc sản nghiệp và nhìn thấy những bằng cớ Ru-tơ đem về, bà Na-ô-mi đã giục lòng Ru-tơ: “Hỡi con gái ta, hãy ở đây, để đợi xem cho biết công việc xoay thế nào; vì nếu ngày nay việc nầy chưa rồi, thì người ấy chẳng nghỉ đâu” (Ru-tơ 3:18). Bà có đức tin chờ đợi lời hứa chuộc sản nghiệp.

Bà Na-ô-mi hình bóng cho những người có đức tin trông đợi Đấng Cứu Thế giáng sanh cứu nhân loại, Giống như cụ già Si-mê-ôn trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem gặp Đấng Chirst trước khi ông qua đời. (Luca 2:25-26).

Chúng ta phải hổ thẹn xin Chúa tha thứ, vì sự thiếu đức tin của chúng ta nơi lời Chúa hứa. Thi-thiên 68:19Đáng ngợi khen Chúa thay, Là Đấng hằng ngày gánh gánh nặng của chúng tôi, Tức là Đức Chúa Trời, sự cứu rỗi của chúng tôi.

Quí vị ơi, Chúa kêu gọi người tin Ngài trao gánh nặng mình cho Đức Giê-hô-va, Ngài sẽ nâng đỡ ngươi, Ngài sẽ chẳng hề cho người công bình bị rúng động. Lời hứa nầy được nhắc lại trong I Phi-e-rơ 5:7. Nhưng khi chúng ta cầu nguyện trao gánh nặng cho Chúa xong, lúc đứng lên, chúng ta nghĩ có lẽ Chúa không gánh nổi, thế là chúng ta lấy lại gánh nặng từ tay Chúa.

Kể câu chuyện để kết thúc: Anh chị em có nghe truyện ngụ ngôn của Bác sĩ Paul White về con khỉ không? Truyện kể rằng có một con khỉ đi đường gặp một con thỏ bị thương, con khỉ thương bạn nên vác con thỏ lên để đưa về hang thỏ. Tuy nhiên, đi một đỗi đường con khỉ càng lúc cảm thấy con thỏ trở nên gánh nặng. Thình lình có một con voi to xuất hiện, con voi lên tiếng hỏi con khỉ: “Anh khỉ ơi, sao anh mệt thế?” Con khỉ trả lời: “Tôi thấy con thỏ bị thương nên vác về hang. Nhưng càng lúc càng nặng quá”. Con voi nói: “Không sao. Anh khỉ hãy leo lên lưng tôi, tôi chở hai người về hang thỏ cho”. Thế là con khỉ leo lên lưng voi để voi chở đi. Bất ngờ đi một đỗi, con voi nghe chừng như không phải con thỏ sắp chết mà con khỉ sắp chết, con voi liền hỏi: “Anh khỉ ơi, sao anh mệt quá vậy?” Con khỉ đáp: “Vì con thỏ trên vai tôi nặng quá”. Con voi nói: “Sao anh không đặt con thỏ nặng đó lên lưng tôi luôn, tôi chở cả hai người mà”.

Có khi nào chúng ta đã làm như vậy với Chúa. Xin Chúa cho bài học đức tin chờ đợi lời hứa của Chúa từ bà Na-ô-mi tác động đến chúng ta, như Ru-tơ đã học. Amen.

Ms Võ Đức Hoà

Trả lời bình luận

Your email address will not be published. Required fields are makes.